Warning: include(/export/home2/WebData/baocongannghean//tin-tuc-su-kien/201410/chinh-sach-moi-co-hieu-luc-tu-thang-102014-539825/index.txt): failed to open stream: No such file or directory in /export/home2/WebData/baocongannghean/index.php on line 72

Warning: include(): Failed opening '/export/home2/WebData/baocongannghean//tin-tuc-su-kien/201410/chinh-sach-moi-co-hieu-luc-tu-thang-102014-539825/index.txt' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php/lib/php') in /export/home2/WebData/baocongannghean/index.php on line 72
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2014 - Báo Công An Nghệ An điện tử
Thứ Tư, 01/10/2014, 14:03 [GMT+7]

Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2014

Hỗ trợ hộ nghèo miền Trung xây nhà tránh bão; từ 5/10, áp thuế chống bán phá giá với thép không gỉ cán nguội; tăng cường quản lý thông tin trên mạng xã hội... là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2014.
 
Hỗ trợ hộ nghèo miền Trung xây nhà tránh bão
 
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung có hiệu lực từ 15/10/2014. Chính sách này sẽ được thực hiện trong 3 năm, góp phần thay đổi cuộc sống của hàng nghìn hộ dân thuộc 14 tỉnh, thành phố.
 
Thực hiện chính sách trên, Ngân sách Nhà nước (gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) hỗ trợ 12 triệu đồng/hộ; những hộ đang cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn theo quy định tại Quyết định số 1049/QĐ-TTg ngày 26/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ thì Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 14 triệu đồng/hộ; những hộ đang cư trú tại các thôn đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ thì Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 16 triệu đồng/hộ để xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt.
 
Các hộ gia đình được hỗ trợ phải đang cư trú tại vùng thường xuyên xảy ra bão, lụt thuộc khu vực nông thôn hoặc tại các thôn, làng, buôn, bản, ấp, phum, sóc (thôn) trực thuộc phường, thị trấn; xã trực thuộc thị xã, thành phố thuộc 14 tỉnh, thành phố: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
 
Phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
 
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp đối với người làm việc trong các đơn vị thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử của Bộ Khoa học và Công nghệ có hiệu lực từ 1/10/2014, đối tượng áp dụng là công chức, viên chức và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động đã được xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
 
Mức phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp được tính trên mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) gồm 4 mức sau đây: 1- Mức phụ cấp 70% áp dụng đối với người làm việc trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc với nguồn bức xạ; 2- Mức phụ cấp 50% áp dụng đối với người làm việc hành chính, phục vụ trực tiếp tại các cơ sở mà có nguy cơ nhiễm xạ; 3- Mức phụ cấp 40% áp dụng đối với người làm việc gián tiếp, không thường xuyên tiếp xúc với nguồn bức xạ; 4- Mức phụ cấp 20% áp dụng với người làm việc hành chính, phục vụ không thuộc đối tượng quy định tại mức 2 nêu trên.
 
Từ 5/10, áp thuế chống bán phá giá với thép không gỉ cán nguội
 
Theo Quyết định 7896/QĐ-BCT của Bộ Công Thương có hiệu lực từ 5/10/2014, áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội, ở dạng cuộn hoặc tấm với độ dày nhỏ hơn hoặc bằng 3,5mm, được ủ hoặc được xử lý nhiệt bằng phương pháp khác và ngâm hoặc được cạo gỉ để loại bỏ tạp chất dư thừa trên bề mặt của thép không gỉ.
 
Những sản phẩm này có thể được tiếp tục xử lý (được cắt hoặc được xẻ) với điều kiện là quá trình đó không làm thay đổi các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm. Các sản phẩm này thuộc các mã HS: 7219.32.00; 7219.33.00; 7219.34.00; 7219.35.00; 7219.90.00; 7220.20.10; 7220.20.90; 7220.90.10; 7220.90.90 được nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Indonesia, Malaysia và lãnh thổ Đài Loan.
 
Thuế xuất khẩu cao su còn 0%
 
Theo Thông tư sửa đổi mức thuế suất thuế xuất khẩu một số mặt hàng cao su của Bộ Tài chính, sửa đổi mức thuế suất thuế xuất khẩu một số mặt hàng cao su thuộc nhóm 40.01, 40.02, 40.05 trong Biểu thuế xuất khẩu theo danh mục mặt hàng chịu thuế gồm: Cao su tự nhiên, nhựa cây balata, nhựa két, nhựa cây cúc cao su, nhựa cây họ sacolasea và các loại nhựa tự nhiên tương tự, ở dạng nguyên sinh hoặc dạng tấm, lá hoặc dải; Cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc dạng tấm, lá hoặc dải; hỗn hợp của một sản phẩm bất kỳ của nhóm 40.01 với một sản phẩm bất kỳ của nhóm này, ở dạng nguyên sinh hoặc dạng tấm, lá hoặc dải; Cao su hỗn hợp, chưa lưu hóa, ở dạng nguyên sinh hoặc dạng tấm, lá hoặc dải.
 
Các mặt hàng này hiện có thuế suất thuế xuất khẩu ở mức 1%, sẽ được giảm xuống mức 0% từ ngày 2/10/2014.
 
Giảm thuế TNCN đối với người làm việc tại Khu kinh tế
 
Theo Thông tư 128/2014/TT-BTC về việc giảm thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm việc tại khu kinh tế, hiệu lực thi hành từ ngày 20/10/2014, số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp và số thuế thu nhập cá nhân phải nộp được giảm 50% với phạm vi áp dụng và thu nhập chịu thuế làm căn cứ giảm thuế được quy định cụ thể.
 
Người nộp thuế được giảm thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, làm việc tại Khu kinh tế.
 
Áp thuế nhập khẩu 15% với khung gầm ô tô đã gắn động cơ
 
Thông tư 122/2014/TT-BTC sửa đổi, bổ sung danh mục nhóm mặt hàng và mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi riêng đối với mặt hàng khung gầm đã gắn động cơ, có buồng lái, có tổng trọng lượng có tải trên 20 tấn nhưng không quá 45 tấn quy định tại Thông tư số 164/2013/TT-BTC.
 
Theo đó, bổ sung nhóm 9836 - Khung gầm đã gắn động cơ, có buồng lái (xe ô tô sát xi, có buồng lái) vào Mục II - Danh mục nhóm mặt hàng và mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi.
 
Cụ thể, nhóm hàng 9836 gồm khung gầm đã gắn động cơ, có buồng lái (xe ô tô sát xi, có buồng lái) của xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa: Xe tự đổ được thiết kế để sử dụng trên các loại đường không phải đường quốc lộ; Của loại khác, có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng sức nén (diesel hoặc bán diesel) như xe đông lạnh, xe thu gom phế thải có bộ phận nén phế thải; của loại khác, có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng tia lửa điện như xe xi téc; xe chở xi măng kiểu bồn…
 
Tất cả các mặt hàng trong nhóm hàng này đều có mức thuế suất thuế nhập khẩu là 15%.
 
Thông tư này có hiệu lực từ 11/10/2014.
 
Quy định thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
 
Theo Thông tư 126/2014/TT-BTC quy định một số thủ tục về kê khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, người nộp thuế thực hiện nộp tiền thuế trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước hoặc tại tổ chức tín dụng.
 
Trường hợp người nộp thuế nộp tiền thuế bằng tiền mặt nhưng Kho bạc Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng không tổ chức điểm thu tại địa điểm làm thủ tục hải quan thì cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan thực hiện thu số tiền thuế do người nộp thuế nộp và chuyển toàn bộ số tiền thuế đã thu vào tài khoản thu ngân sách của Kho bạc Nhà nước mở tại ngân hàng thương mại theo quy định.
 
Trường hợp tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, người nộp thuế có nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và tiền thu khác tại các cơ quan hải quan khác và muốn nộp ngay số tiền nợ đó tại cơ quan hải quan nơi đang làm thủ tục hải quan; người nộp thuế tự khai báo và nộp tiền tại điểm thu của Kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng hoặc cho cơ quan hải quan nơi làm thủ tục (nếu Kho bạc Nhà nước không bố trí điểm thu).
 
Trường hợp thu hộ tiền thuế, Chi cục hải quan nơi thu hộ có trách nhiệm fax biên lai thu thuế cho Chi cục hải quan nơi doanh nghiệp nợ thuế để Chi cục hải quan nơi doanh nghiệp nợ thuế có văn bản nhờ thu hộ và xử lý theo quy định.
 
Thông tư có hiệu lực từ 1/10/2014.
 
Tăng cường quản lý thông tin trên mạng xã hội
 
Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội có hiệu lực từ 3/10/2014.
 
Trong đó, đối với mạng xã hội phải lưu trữ tối thiểu 2 năm đối với các thông tin về tài khoản, thời gian đăng nhập, đăng xuất, địa chỉ IP của người sử dụng và nhật ký xử lý thông tin được đăng tải; tiếp nhận và xử lý cảnh báo thông tin vi phạm từ người sử dụng; phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn truy nhập bất hợp pháp, các hình thức tấn công trên môi trường mạng và tuân theo những tiêu chuẩn đảm bảo an toàn thông tin.
 
Đồng thời, đảm bảo phải có ít nhất 1 hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam, cho phép tại thời điểm bất kỳ cũng có thể đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin trên toàn bộ các trang thông tin tiện tử, mạng xã hội do tổ chức, doanh nghiệp sở hữu theo quy định.
 
Về quản lý thông tin, mạng xã hội phải có thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội phù hợp theo các quy định tại Nghị định số 72/2013/NĐ-CP và được đăng tải trên trang chủ của mạng xã hội; bảo đảm người sử dụng phải đồng ý thỏa thuận sử dụng dịch vụ mạng xã hội bằng phương thức trực tuyến thì mới có thể sử dụng được các dịch vụ, tiện ích của mạng xã hội; có biện pháp bảo vệ bí mật thông tin riêng, thông tin cá nhân của người  sử dụng; bảo đảm quyền quyết định của người sử dụng trong việc cho phép thu thập thông tin cá nhân của mình hoặc cung cấp cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác.
 
Người giúp việc gia đình được nghỉ ít nhất 4 ngày/tháng
 
Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động giúp việc gia đình được nghỉ bình quân ít nhất 4 ngày trong 1 tháng khi không thể bố trí nghỉ hàng tuần.
 
Đây là một trong những nội dung quy định tại Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người giúp việc gia đình.
 
Thông tư quy định, thời giờ làm việc của người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không được quá 8 giờ trong 1 ngày và 40 giờ trong 1 tuần.
 
Trường hợp không thể bố trí người lao động nghỉ hàng tuần thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ bình quân ít nhất 4 ngày trong 1 tháng và người sử dụng lao động phải trả lương làm thêm giờ cho người lao động ít nhất bằng 200% tiền lương tính theo ngày làm việc.
 
Thông tư có hiệu lực từ 5/10/2014.
.

Nguồn: Chinhphu.vn

.